TRUNG TÂM THẨM MỸ HÀN QUỐC EVA

Bác sĩ Khải tốt nghiệp Đại học quốc gia SEOUL và các Bác sĩ HÀN QUỐC đảm nhiệm

Tổng Đài: 1900.9448
Địa chỉ: 138 Lê Hồng Phong, F.3, Quận 5, TP. HCM
vikr

Sự lành vết thương và dinh dưỡng

Sự lành vết thương và dinh dưỡng
/10 bài đánh giá

Có quan hệ mật thiết mà đã được công nhận bởi các bác sĩ cho hàng trăm năm. Suy dinh dưỡng hoặc thiếu hụt chất dinh dưỡng có thể có tác động nghiêm trọng đến sự lành vết thương…

Sự lành vết thương và dinh dưỡng có quan hệ mật thiết mà đã được công nhận bởi các bác sĩ cho hàng trăm năm. Suy dinh dưỡng hoặc thiếu hụt chất dinh dưỡng có thể có tác động nghiêm trọng đến sự lành vết thương. Vết thương xấu, như có nhiễm trùng vết thương và / hoặc trì hoãn lành thương, góp phần đáng kể về gánh nặng tài chính đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe trên toàn thế giới.

Các yếu tố dinh dưỡng trong sự hàn gắn vết thương
- Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng protein-năng lượng, dạng phổ biến nhất của suy dinh dưỡng trên thế giới, dẫn đến giảm sức căng vết thương, giảm chức năng tế bào T, giảm hoạt động thực bào, và giảm bổ thể và kháng thể, cuối cùng là giảm khả năng đề kháng của cơ thể đối với vết thương chống lại nhiễm trùng. Trên lâm sàng suy giảm miễn dịch tương quan với tăng tỷ lệ biến chứng lành thương và tăng sự không lành thương sau phẫu thuật sạch. Ở bệnh nhân cao tuổi tại nhà dưỡng lão, suy dinh dưỡng là cũng liên quan đến tỷ lệ tử vong tăng lên, tăng nguy cơ loét do tỳ đè, và chất lượng sống thấp.

sua canh mui lech 4 Sự lành vết thương và dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng có thể có trước vết thương hoặc có thể thứ phát do dị hóa từ vết thương. Chất đường và đạm cung cấp khoảng 4 kcal/kg, chất mỡ cung cấp 9 kcal/kg. Chế độ ăn trước mổ quan trọng cho lành vết thương hơn tình trạng dinh dưỡng cơ thể. Dinh dưỡng bằng đường miệng hay truyền dịch có thể thúc đẩy hay làm chậm sự lành thương.Cần cung cấp dinh dưỡng tốt nhất để đạt sự lành vết thương tốt nhất.

- Chất đường

Chất đường cùng với chất mỡ cung cấp năng lượng chính cho cơ thê và sự lành vết thương. Vết thương cần năng lượng để tổng hợp collagen. Sự tổng hợp protein đòi hỏi 0,9kcal/g và mô hạt có thể tích 3cm2*1mm độ dày chứa 10mg collagen. Vết thương đơn giản ít tác động đến chuyển hóa năng lượng toàn thân, nhưng vết thương bỏng hay biến chứng nặng,diện rộng gây rối loạn chuyển hóa năng lượng toàn thân.

Glucose là nguồn năng lượng chính cho sự lành thương dưới dạng ATP. Glucose cũng cần thiết cho việc ngăn ngừa suy giảm amino acid và protein. Chất đường đóng vai trò quan trọng cung cấp năng lượng cho sự lành vết thương, nhưng quá nhiều đường có thể làm chậm trễ lành thương, như bệnh nhân đái tháo đường mà đường huyết kiểm soát không tốt.

nang mui s line 21 Sự lành vết thương và dinh dưỡng

Đái tháo dường có thể làm chậm sự lành vết thương và gia tăng biến chứng. Cơ chế do nhiều nguyên nhân và chưa xác định rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến sự tích tụ sản phẩm đường trong cơ thể. Đái tháo đường ức chế phản ứng viêm, nguyên bào sợi và hoạt động của tế bào nội mô, làm chậm lắng động chất nền, tái tạo vết thương và đóng mép da

Tăng đường huyết gây ức chế cạnh tranh với axit ascorbic vào nguyên bào sợi và bạch cầu, giảm hóa hướng động bạch cầu. Bệnh nhân đái tháo đường dễ nhiễm trùng vì giảm sự đề kháng ký chủ. Tóm lại, yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng lên sự lành thương ở bệnh nhân đái tháo đường là đạt được và duy trì đường huyết bình thường.

- Chất béo

Trái với chất đường, vai trò của chất béo vẫn chưa được nghiên cứu sâu mặc dù người ta nhận thấy rằng nhu cầu axít béo cần thiết tăng lên sau tổn thương. Sự thiếu hụt các axít béo cần thiết có thể xảy ra sau 2 tuần không dùng chúng, mặc dù có thể không có biểu hiện lâm sàng cho 2 tới 7 tháng. Phospholipid là thành phần chính của màng tế bào trong khi Prostaglandins đóng vai trò quan trọng cho phản ứng viêm và chuyển hóa tế bào.

thu gon mui dai 1 Sự lành vết thương và dinh dưỡng

Thiếu hụt axít béo thiết yếu hiếm khi biểu hiện lâm sàng trừ khi nuôi ăn tĩnh mạch kéo dài mà không có chất mỡ. Nuôi ăn tĩnh mạch hoàn toàn không chứa chất mỡ là nguyên nhân phổ biến nhất gây thiếu hụt axít béo thiết yếu, mà có thể biểu hiện sau 10 ngày.Omega 3 điều chỉnh hệ miễn dịch chống nhiễm trùng hơn là sự lành thương.

- Protein

Thiếu protein nặng làm chậm lành vết thương do giảm tổng hợp collagen, giảm sự căng da và gia tăng nhiễm trùng. Tuy nhiên thiếu hụt protein đơn thuần hiếm gặp mà đa số là kết hợp protein-năng lượng hay suy dinh dưỡng protein-năng lượng.
Amino acids

- Arginine

Arginine là tiền chất để tổng hợp collagen, duy trì cân bằng nitơ dương,phóng thích yếu tố phát triển và kích thích lymphô bào T và liên quan tổng hợp urê, nitric oxide và creatinine phosphate. Arginine có vai trò quan trọng cho sự lành vết thương, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường.

- Glutamine

Glutamine là nguồn năng lượng cho tế bào lymphô T, và cần cho tăng sinh lymphô bào, nó cũng có vai trò trong kích thích đáp ứng viêm.

- Vitamins

Vitamins liên quan tới sự lành vết thương hầu như là vitamin C và vitamin A.

Liều vitamin C khuyến cáo là 60mg/ngày. Ở bệnh nhân bỏng có thể 2g/ngày. Mặc dù liều có thể khác nhau theo từng trường hợp nhưng chưa có bẳng chứng cho thấy dùng liều cao vitamin C có thể tăng sự lành vết thương, cũng chưa có bằng chứng dư vitamin C là độc

Thiếu vitamin C cùng với chậm lành vết thương gia tăng nhiễm trùng.Nhiễm trùng trong trường hợp thiếu vitamin C làm nhiễm trùng nặng hơn. Nguyên nhân là do giảm tổng hợp collagen và thiếu đi màng ngăn chặn vi trùng , cũng như suy giảm chức ngăn bạch cầu trung tính và bổ thể.

Vitamin A kích thích biểu mô hóa và lắng đọng collagen, vitamin cũng phuc hồi sự chậm lành vết thương do đái tháo đường, bướu, cyclophosphamide và tia xạ. Vitamin A cũng gia tăng đáp ứng viêm

Tổn thương nặng hay stress dẫn đến tăng nhu cầu vitamin A. Liều cao corticosteroids gây giảm dự trữ vitamin ở gan. Vitamin A huyết thanh cũng giảm sau phỏng, gãy xương và phẫu thuật. Tổn thương nặng, liều vitamin A khuyến cáo là 25000UI/ngày(gấp 5 lần nhu cầu hằng ngày) mà không gây tác dụng phụ đáng kể. Liều cao hơn không đem lại lợi ích và dùng kéo dài có thể gây độc.

Vitamin A tan trong mỡ và vitamin C tan trong nước là những vitamin nổi bật trong tiến trình lành vết thương. Vitamin tan trong nước khác là vitamin B, có vai trò gián tiếp trên sự lành vết thương qua ảnh hưởng lên sự đề kháng ký chủ. Vitamin tan trong mỡ D, E, K không đóng góp nhiều vào sự lành vết thương.

- Vi chất dinh dưỡng

Vi chất dinh dưỡng là chất cần thiết cho tế bào bao gồm thành phần hữu cơ như vitamin và thành phần vô cơ. Mặc dù các chất này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong nhu cầu dinh dưỡng cơ thể nhưng rất quan trọng cho sự lành vết thương

Magne là đồng yếu tố tổng hợp protein và collagen, cần thiết cho sự lành vết thương.

Kẽm liên quan tổng hợp DNA, tổng hợp protein và tăng sinh tế bào.Nhu cầu kẽm hang ngày là 15mg.

Ngoài ra sắt, đồng cũng cần thiết cho sự lành vết thương.

Những yếu tố khác ảnh hưởng lên sự lành vết thương.

– Nhiễm trùng

Nhiễm trùng tại chổ hay nhiễm trùng toàn thân là một trở ngại cho sự lành vết thương. 105 khúm vi trùng/ 1cm2 bề mặt vết thương hay 1g mô có thể cản trở lành vết thương. Cùng với kháng sinh thích hợp, chức năng hệ miễn dịch là quan trọng để ngăn ngừa và làm sạch vết thương. Hệ miễn dịch gắn chặt với dinh dưỡng cơ thể.

– Đánh giá tình trạng dinh dưỡng toàn thân

Phẫu thuật trong bụng không biến chứng tăng tỷ lệ chuyển hóa lên 10%, các tổn thương không biến chứng như gãy xương đùi, tỷ lệ chuyển hóa tăng khoảng 20%, viêm phúc mạc tỷ lệ chuyển hóa tăng 20-40%, bỏng độ 3 tỷ lệ chuyển hóa tăng 50-100%, sốt tỷ lệ chuyển hóa tăng 10% mỗi 1oC trên mức bình thường.

Các chỉ dấu khác tiên đoán tình trạng dinh dưỡng toàn thân bao gồm albumin huyết thanh, prealbumin, retinol binding protein, transferrin, số lượng lymphô bào, nitơ niệu, phản ứng quá mẫn muộn, dung tích hô hấp phút.

– Nuôi ăn

Tỷ lệ calo:nitơ nên 120-150:1 trong những tuần đầu sau tổn thương nặng, sau đó tăng lên 200-225:1ở thời kỳ cân bằng nitơ dương.

Nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch cho bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng ít nhất 7 ngày trước mổ giúp giảm biến chứng sau mổ.

Dinh dưỡng hoàn toàn bằng đường ruột tốt hơn dinh dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch trong giai đoạn sớm của sự lành vết thương. Dinh dưỡng bằng đường ruột giúp duy trì đáp ứng miễn dịch tại chỗ và toàn thân, cải thiện chuyển hóa protein và sống còn, bảo tồn thuộc tính đường ruột.

Đối với bệnh nhân suy dinh dưỡng, mổ chương trình nên trì hoàn cho đến khi cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Nếu bệnh nhân không muốn ăn nên truyền dịch sớm.

Áp dụng lâm sàng

Bệnh nhân suy dinh dưỡng trung bình(giảm 10-20% cân nặng; 2,5g/dl < albumin huyết thanh <3,2g/dl) tới nặng (giảm trên 20% cân nặng; albumin<2,5 g/dl) mà có thể trì hoãn phẫu thuật ít nhất 7 ngày nên nâng đỡ dinh dưỡng trước mổ bằng đường ruột và/hoặc đường tĩnh mạch.Vitamin C có lợi cho vết thương bỏng. Vitamin A có lợi khi dùng corticosteroid kéo dài.Bù kẽm và sắt nếu thiếu.

Tóm lại

Mối liên quan giữa dinh dưỡng và sự lành vết thương đã được nghiên cứu và thử nghiệm trong nhiều thế kỷ, hiểu biết đáng kể về tiến trình và các yếu tố liên quan, nhưng sự lành vết thương vẫn còn bí ẩn.

Có thể bạn muốn xem: sửa mũi Hàn Quốc , nâng mũi S line

Có thể bạn muốn tìm Tags: ,